Giới thiệu về tôi
- Huỳnh Thị Lệ Ân
- Theo lý thuyết mà nói thì con gái cần làm mới mình mỗi ngày... Một nút F5 cho chính mình... bằng việc tạo một blog và... viết. Chỉ là một chút suy tư... Chỉ là muốn có thêm trải nghiệm... Chỉ là muốn làm một cái gì đó thay đổi chính bản thân mình... Chỉ là muốn không cô độc trong thời đại mà người người đều gặp nhau qua net, ăn với net, ngủ với net... Chỉ là một chút chạnh lòng bởi những tối coffee anh chăm chú nhìn vào màn hình máy tính đến quên người ngồi bên cạnh... Chỉ là nghĩ cho sau này, em sẽ không lạc lõng giữa chính cuộc đời mình và đời anh... Chỉ là muốn có chút gì đó có thể giúp anh những khi anh mệt mỏi... Chỉ là một chút buồn từ lời anh nói.. . Và chỉ là... đơn giản chỉ là một chút vẩn vơ!
Tổng số lượt xem trang
Lưu trữ Blog
Được tạo bởi Blogger.
Bán hàng cá nhân (personal selling )
Bán hàng cá nhân (personal selling ) là sự giao tiếp mặt đối mặt của nhân viên bán hàng với khách hàng tiềm năng để trình bày,giới thiệu và bán sản phẩm.
Bán hàng cá nhân (personal selling ) tạo sự chú ý của mỗi khách hàng và chuyển tải nhiều thông tin.Giữa người bán và người mua có một sự tương tác linh hoạt ,thích ứng cho những yêu cầu riêng biệt của khách hàng và có thể dẫn đến hành vi mua hàng.Đây là những việc mà quảng cáo không thể làm được.Nhân viên bán hàng cũng có thể thuyết phục và giải quyết thắc mắc của khách hàng .Ngoài ra, bán hàng cá nhân (personal selling ) có thể thiết lập và phát triển những mối quan hệ bán hàng.
Tuy nhiên ,trong thực tế,đối với người tiêu dùng cuối cùng, bán hàng cá nhân (personal selling ) có một hình ảnh xấu.Hoạt động này bị cho là thiếu trung thực và dùng nhiều kỹ thuật thúc ép khánh hàng.
1. Mục tiêu của bán hàng cá nhân (personal selling )
Những mục tiêu của Bán hàng cá nhân (personal selling ) có thể theo hướng tạo nhu cầu hay theo hướng xây dựng hình ảnh.Mặc dù nhiều công ty quan tâm đến việc thông tin,nhắc nhở và xây dựng hình ảnh nhưng mục tiêu chủ yếu vẫn là hướng dẫn khách hàng đến với sản phẩm.
Các mục tiêu của Bán hàng cá nhân (personal selling ) được trình bày theo hình sau:
2. Vai trò chức năng của bán hàng cá nhân (personal selling ):
- Bán hàng cá nhân cho nhà marketing một sự truyền thông uyển chuyển, linh hoạt.
- Bán hàng cá nhân cũng ghi nhận nhiều thông tin phản hồi chính xác
- Đánh giá hiệu quả việc chào hàng qua phản ứng khách hàng
- Nhằm quảng bá, giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp tới người tiêu dùng.
- Giải đáp thắc mắc của khách hàng về sản phẩm từ đó đánh giá lại sản phẩm để có các phương pháp cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm.
3. Thuận lợi và khó khăn trong bán hàng cá nhân (personal selling ):
Thuận lợi:
- Có nhiều cách để tác động đến khách hàng tiềm năng
- Thông điệp được thiết kế phù hợp với người nhận
- Khách hàng tiềm năng không bị phân tâm
- Người bán hàng ảnh hưởng đến quyết định mua hàng
- Nguồn thông tin nguyên cứu
Khó khăn:
- Thông điệp có thể bị nhiễu
- Có thể quản lý xung đột đội ngũ bán hàng
- Chi phí cực kì cao
- Tầm với có thể bị giới hạn
- Tiềm ẩn vấn đề đạo đức
4. Các hình thức bán hàng cá nhân (personal selling):
a. Là nhân viên chính thức cho một công ty:
Ưu điểm:
- Kiểm soát tốt
- Hiểu biết về kiến thức sản phẩm cao
- Chăm sóc khách hàng tốt hơn
Nhược điểm:
- Chi phí cao
- Thời gian huấn luyện
- Chịu những chi phí bảo hiểm, trợ cấp…
b. Bán hàng cho nhiều doanh nghiệp
Ưu điểm:
- Chi phí thấp
- Không cần huấn luyện…
- Nới rộng được thị trường
- Có nhiều mối quan hệ mới
Nhược điểm:
- Không tập trung vào một sản phẩm
- Không thể kiểm soát, quản lý….
c. Các loại bán hàng cá nhân khác
- Bán hàng tại văn phòng (Inside saleperson)
- Bán hàng tại hiện trường (Field representative)
- Quản lý khách hàng ( Account manager)
- Bán hàng theo chiều dọc (Vertical market Rep)
- Nhân viên bán lẻ (Retail sales Rep )
- Tư vấn ( Missionany saleperson )
- Bán hàng cho kênh phân phối (Trade Rep )
Tag :
ban-hang-ca-nhan,
marketing,
Marketing dịch vụ
1. Dịch vụ là gì?
Là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. dịch vụ có 4 đặc điểm quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến việc thiết kế các chương trình marketing:
- Tính vô hình
- Tính đồng thời
- Tính không thể lưu trữ
- Tính không ổn định
2. Marketing dịch vụ là gì?
Marketing dịch vụ được phát triển trên cơ sở thừa kế những kết quả của Marketing hàng hóa. Tuy nhiên, do những đặc điểm riêng của dịch vụ, hệ thống Marketing Mix cho hàng hóa không hoàn toàn phù hợp với các tổ chức cung ứng dịch vụ. “Tiếp thị trong thế kỷ 21 không còn bó hẹp trong công thức 4P truyền thống nữa mà đã và đang mở rộng ra thêm 3P thành Công thức 7P. Những nỗ lực tiếp thị sẽ được tiếp thêm nhiều năng lực và đánh bại các đối thủ cạnh tranh với công thức mới này. Một khi doanh nghiệp đã xây dựng xong chiến lược tiếp thị, công thức 7P nên được sử dụng để liên tục đánh giá và tái đánh giá các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”.
- Product ( Sản phẩm ) Sản phẩm là những cái gì có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Hàng hoá là sản phẩm có thể đưa vào thị trường để tạo ra sự mua bán. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được lợi nhuận thỏa đáng nếu đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của hệ thống Marketing – mix. Chất lượng của sản phẩm được đo lường giữa chất lượng khách hàng kì vọng và chất lượng khách hàng mong đợi. Nếu chất lượng thực tế của sản phẩm không như mong đợi thì khách hàng sẽ cảm thấy thất vọng. Ngược lại, khi chất lượng thực tế của sản phẩm đáp ứng như mong đợi hoặc vượt quá sự mong đợi thì khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng và hoan hỉ, vui vẻ. Chất lượng thật sự của hàng hoá do nhà sản xuất cung cấp thường khác với chất lượng khách hàng cảm nhận được. Chất lượng mà khách hàng cảm nhận mới là quan trọng. Chính vì thế doanh nghiệp cần phải có một chính sách sản phẩm hợp lý. Chính sách sản phẩm này đòi hỏi phải thông qua những quyết định phù hợp với nhau về từng đơn vị hàng hoá, chủng loại hàng hoá và danh mục hàng hoá
- Price ( Giá ) Giá cả là những gì mang lại doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đồng thời, giá tạo ra chi phí cho khách hàng, là những gì họ “trả” để có được sản phẩm với tính năng và nhãn hiệu cụ thể. Doanh nghiệp phát triển thói quen thường xuyên xem xét và xem xét lại các mức giá của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp để đảm bảo rằng nó luôn phù hợp với thực tế của thị trường hiện tại. Bằng việc nâng giá, các doanh nghiệp có thể đánh mất một số lượng khách hàng, nhưng tỷ lệ phần trăm (%) khách hàng còn lại có thể sẽ phát sinh lợi nhuận trên từng giao dịch bán hàng. Do đó để xây dựng chính sách giá cả các doanh nghiệp cần phải lưu ý: Chi phí nào doanh nghiệp phải chịu với mức giá mà thị trường chấp nhận có lãi; sản phẩm mang nhãn hiệu của doanh nghiệp mình đáng giá bao nhiêu và làm sao truyền được giá trị này cho khách hàng; mức doanh thu hay thị phần nào, sản phẩm có thể đạt được, để thu lợi nhuận tối đa.
- Promotion ( Xúc tiến ) Xúc tiến bao gồm tất cả các cách thức mà doanh nghiệp có thể nói với khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp và làm thế nào doanh nghiệp có thể tiếp thị và bán chúng. Những thay đổi nhỏ trong cách thức mà doanh nghiệp xúc tiến và bán sản phẩm, dịch vụ có thể dẫn tới những thay đổi lớn trong kết quả kinh doanh. Thậm chí cả những thay đổi nhỏ trong quảng cáo cũng có thể dẫn ngay tới doanh số bán hàng cao hơn. Doanh nghiệp cần phải linh hoạt hơn trong công tác xúc tiến của mình. Ngay khi phương pháp bán hàng và tiếp thị hiện tại không còn phù hợp nữa doanh nghiệp cần phải xây dựng những chiến lược, chào mời và phương pháp tiếp thị, bán hàng và quảng cáo mới.
- Place ( Kênh phân phối ) Chữ P thứ tư trong Công thức tiếp thị 7P đó là địa điểm nơi doanh nghiệp thực tế bán các sản phẩm hay dịch vụ. Việc lựa chọn địa điểm hoặc kênh phân phối phù hợp sẽ ảnh hưởng tới kết quả tăng trưởng doanh số bán hàng mạnh mẽ. Bên cạnh đó việc lựa chọn địa điểm bán hàng tốt sẽ giúp cho khách hàng nắm rõ những thông tin thiết yếu về sản phẩm hoặc dịch vụ cần thiết cho những quyết định sử dụng của khách hàng.
- Process ( Cung ứng dịch vụ ) Do tính đồng thời trong quá trình cung ứng dịch vụ, chất lượng của sản phẩm dịch vụ được đảm bảo chủ yếu thông qua một quy trình cung ứng rõ ràng, chuẩn xác. Loại trừ được những sai sót từ cả hai phía. Một quy trình hiệu quả cũng hạn chế được đặc điểm không đồng nhất trong quá trình cung ứng dịch vụ.
- Physical evidence ( Điều kiện vật chất ) Môi trường vật chất của công ty cung ứng dịch vụ là nơi dịch vụ được tạo ra, nơi khách hàng và người cung ứng dịch vụ giao tiếp, thêm vào đó là những phần tử hữu hình được sử dụng để hỗ trợ vai trò của dịch vụ. Do đặc trưng của dịch vụ là vô hình cho nên trong kinh doanh dịch vụ các nhà Marketing phải cố gắng cung cấp các đầu mối vật chất để hỗ trợ vị trí và tăng cường cho dịch vụ bao quanh nhằm làm giảm bớt tính vô hình của dịch vụ. Do vậy có thể khẳng định bằng chứng vật chất của công ty cung ứng dịch vụ là hết sức quan trọng. Nó giúp cho việc tạo ra vị thế của công ty và trợ giúp hữu hình cho dịch vụ. Chính vì vậy mà các ngân hàng đã phải chi ra những khoản tiền lớn để tạo ra kiểu dáng kiến trúc các trang trí nội thất, trang bị đồng phục cho nhân viên…nhằm gây ấn tượng về tiếng tăm, uy tín vị thế của mình.
- People ( Con người ) Con người là nhân tố giữ vị trí quan trọng trong Marketing dịch vụ và nó là nhân tố chính tạo ra dịch vụ và quyết định tới chất lượng dịch vụ cung ứng. Bởi vì con người là nhân tố không thể thiếu tham gia vào quy trình cung ứng dịch vụ của công ty. Do vậy chất lượng dịch vụ cũng như sự thành công của một công ty, Marketing dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào việc tuyển chọn đào tạo con người. Chính vì thế khả năng lựa chọn, tuyển dụng và giữ chân những con người thích hợp với những năng lực và kỹ năng tốt để hoàn thành công việc được giao phó là rất quan trọng.
Download tài liệu tại đây: Tài liệu Marketing dịch vụ
Tag :
marketing,
marketing-dich-vu,
Marketing Mix (4P)
Marketing mix (4P) là một trong những khái niệm chủ yếu của Marketing hiện đại. Marketing mix (4P) là tập hợp những công cụ Marketing mà công ty sử dụng để đạt được các mục tiêu trong một thị trường đã chọn. Các công cụ Marketing được pha trộn và kết hợp với nhau thành một thể thống nhất để ứng phó với những khác biệt và thay đổi trên thị trường. Có thể nói Marketing mix như là một giải pháp có tính tình thế của tổ chức.
Các công cụ Marketing gồm có: sản phẩm (Product), giá cả (Price), phân phối (Place), xúc tiến (Promotion) và thường được gọi là 4P. Những thành phần của mỗi P có rất nhiều nội dung thể hiện ở hình 1.2.
Marketing mix (4P) có thể được chọn từ rất nhiều khả năng được thể hiện như một hàm có bốn biến số là (P1,P2, P3, P4). Marketing mix của một công ty tại một thời điểm t cho một sản phẩm A có mức chất lượng q, giá bán m, chi phí phân phối y, chi phí xúc tiến z được thể hiện là (q,m,y,z). Một biến số thay đổi sẽ dẫn đến sự kết hợp mới trong Marketing mix. Không phải tất cả những yếu tố thay đổi trong Marketing mix có thể điều chỉnh trong ngắn hạn. Công ty có thể điều chỉnh giá bán, lực lượng bán, chi phí quảng cáo trong ngắn hạn những chỉ có thể phát triển sản phẩm mới và thay đổi kênh phân phối trong dài hạn.
Các công cụ Marketing gồm có: sản phẩm (Product), giá cả (Price), phân phối (Place), xúc tiến (Promotion) và thường được gọi là 4P. Những thành phần của mỗi P có rất nhiều nội dung thể hiện ở hình 1.2.
Marketing mix (4P) có thể được chọn từ rất nhiều khả năng được thể hiện như một hàm có bốn biến số là (P1,P2, P3, P4). Marketing mix của một công ty tại một thời điểm t cho một sản phẩm A có mức chất lượng q, giá bán m, chi phí phân phối y, chi phí xúc tiến z được thể hiện là (q,m,y,z). Một biến số thay đổi sẽ dẫn đến sự kết hợp mới trong Marketing mix. Không phải tất cả những yếu tố thay đổi trong Marketing mix có thể điều chỉnh trong ngắn hạn. Công ty có thể điều chỉnh giá bán, lực lượng bán, chi phí quảng cáo trong ngắn hạn những chỉ có thể phát triển sản phẩm mới và thay đổi kênh phân phối trong dài hạn.
Hình 1.1 : Mô hình 4P trong Marketing mix
1. Các thành phần của Marketing-mix (4P)
Sản phẩm (Product)
Là thành phần cơ bản nhất trong Marketing mix. Đó có thể là sản phẩm hữu hình của công ty đưa ra thị trường, bao gồm chất lượng sản phẩm, hình dáng thiết kế, đặc tính, bao bì và nhãn hiệu. Sản phẩm cũng bao gồm khía cạnh vô hình như các hình thức dịch vụ giao hàng, sửa chữa, huấn luyện,…
Giá (Prrice)
Là thành phần không kém phần quan trọng trong Marketing mix bao gồm: giá bán sỉ, giá bán lẻ, chiết khấu, giảm giá, tín dụng. Giá cả phải tương xứng với giá trị nhận được của khách hàng và có khả năng cạnh tranh.
Phân phối ( Place)
Cũng là một thành phần chủ yếu trong Marketing mix. Đó là những hoạt động làm cho sản phẩm có thể tiếp cận với khách hàng mục tiêu. Công ty phải hiểu rõ, tuyển chọn và liên kết những nhà trung gian để cung cấp sản phẩm đến thị trường mục tiêu một cách có hiệu quả.
Xúc tiến (Promotion)
Xúc tiến gồm nhiều hoạt động để thông đạt và thúc đẩy sản phẩm đến thị trường mục tiêu. Công ty phải thiết lập những chương trình như: quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng, Marketing trực tiếp. Công ty cũng phải tuyển mộ, huấn luyện và động viên đội ngũ bán hàng.
Trên quan điểm của người bán 4P là những công cụ Marketing tác động đến người mua. Trên quan điểm người mua mỗi công cụ Marketing được thiết kế để cung cấp lợi ích cho khách hàng. Robert Lauterborn cho rằng 4P là để đáp ứng 4C của khách hàng.
Công ty muốn chiến thắng trên thị trường phải đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách có hiệu quả bằng các sản phẩm và giá cả hợp lý, tạo điều kiện có lợi cho khách hàng và phải có thông đạt thích hợp
Hình 1.2: Quan hệ 4P và 4C
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến marketing-mix (4P)
Marketing mix không có khuôn mẫu chung nào cho mọi trường hợp mà nó thay đổi theo các yếu tổ ảnh hưởng như:
- Vị trí và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường: Nếu trên thị trường doanh nghiệp đã chiếm được thị phần cao thì lúc đó không cần tốn nhiều chi phí cho các hoạt động xúc tiến những vẫn bán được hàng.
- Yếu tố sản phẩm: Sản phẩm khác nhau phải có cách bán hàng, xúc tiến khác nhau. Do đó, doanh nghiệp phải thiết kế hệ thống phân phối và sử dụng các công cụ xúc tiến khác nhau.
- Giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm: Mỗi giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm có đặc điểm khác nhau nên cần có Marketing mix khác nhau.
5 quảng cáo làm 'chao đảo' hàng triệu cư dân mạng
Truyển tải những thông điệp yêu thương, nghị lực và sự chia sẻ, những clip quảng cáo này đã lấy nước mắt của hàng triệu khán giả, trong khi vẫn mang lại hiệu quả truyền thông tốt cho nhãn hàng.
1. Quảng cáo Pepsi và snack Lay
Chỉ trong 6 ngày, video quảng cáo của nhà mạng True Move H đã đạt được hơn 7 triệu lợt xem và gây bão trên khắp thế giới. Nội dung quảng cáo khá đơn giản, dựa trên một câu chuyện có thật được chia sẻ trên mạng. Một cậu bé nhà nghèo đã lẻn vào hiệu thuốc để ăn trộm thuốc giảm đau về cho người mẹ đang ốm nặng của mình. Bị bắt quả tang, cậu được một người chủ quán mỳ giúp đỡ. 30 năm sau, cậu bé nghèo nay đã trở thành bác sĩ quay lại trả ơn người đã giúp đỡ mình. “Cho đi là cách giao tiếp tốt nhất” (Giving is the best communication) là thông điệp của quảng cáo cũng như của nhà mạng.
3. Quảng cáo Thai Life Insurance
Đoạn quảng cáo “Tình yêu thầm lặng” của công ty bảo hiểm nhân thọ Thai Life Insurance kể câu chuyện về mối quan hệ của một người cha câm điếc với đứa con gái nhỏ của ông. Bị bạn bè trêu chọc vì có một người cha tật nguyền, cô con gái đã tỏ ra giận dữ với cha mình và tự vẫn. Dần dần, cô hiểu ra tình yêu hoàn hảo của người cha không hoàn hảo của mình.
4. Quảng cáo của P&G
Sức mạnh của đam mê sẽ lớn đến đâu? Câu trả lời cho câu hỏi này có thể được lý giải một phần qua đoạn quảng cáo của Pantene. Clip quảng cáo kể câu chuyển về một cô gái khuyết tật theo đuổi đam mê trở thành nghệ sĩ violon, dù bị bạn bè, đối thủ cạnh tranh tìm mọi cách cản trở. Hình ảnh nhãn hàng chỉ thấy ở cuối đoạn quảng cáo với thông điệp “Bạn có thể tỏa sáng” là lời kết viên mãn cho một clip quảng cáo xúc động, có khả năng truyền cảm hứng mạnh mẽ.

1. Quảng cáo Pepsi và snack Lay
Lấy bối cảnh của những ngày cận Tết, quảng cáo đầy yêu thương của Trung Quốc về tình yêu lớn lao của người cha đã khiến cộng đồng mạng xúc động. Người cha đơn thân già yếu chờ 3 đứa con làm ăn xa trở về vào ngày Tết, nhưng sự chờ đợi dường như vô vọng khi cậu con trai là minh tinh bận chạy show, cô con gái lớn là giám đốc công ty và cô con gái nhỏ là sinh viên xa nhà. Từ thông điệp của Pepsi, snack Lay và những kỷ niệm yêu thương của người cha đã đưa gia đình trở về bên nhau trong đêm giao thừa.
2. Quảng cáo True Move H
3. Quảng cáo Thai Life Insurance
4. Quảng cáo của P&G
Đoạn quảng cáo có tên Best Job mà P&G tung ra vào năm 2012 đúng dịp tổ chức thế vận hội Olympic London, tập đoàn này cũng chính là một trong những nhà tài trợ hàng đầu cho sự kiện thể thao này, vì thế, P&G đã xoáy sâu vào hình ảnh những người đứng bên cạnh chặng đường gian khổ và đằng sau thành công của các vận động viên: đó chính là các bà mẹ.
5. Quảng cáo Pantene
T.A (tổng hợp)
Theo Tri Thức